|
BỆNH TẢ Bệnh tả (Cholera) là một bệnh nhiễm trùng đường ruột do vi trùng Vibrio cholerae gây ra, độc tố của vi trùng này gây tiêu chảy nặng kèm theo mất nước. Robert Koch là người nhận dạng được vi trùng gây bệnh tả vào năm 1883. Lịch sử Bệnh tả xuất hiện châu Á khoảng 600 năm trước Công nguyên, ghi nhận lần đầu tiên trong y học vào năm 1563 tại Ấn Độ và đại dịch vào năm 1817-1821, tiếp đến là nước Nga, châu Âu, Bắc Mỹ, châu Phi, Nam Mỹ. Năm 1832, gần 40.000 người dân Paris chết, nạn nhân có cả tể tướng. Dịch tả tấn công nước Anh vào năm 1848-1849 đã làm 70.000 người chết, Đại dịch năm 1854 đã cướp đi sinh mạng 1/8 dân số thành phố London. Sang thời cận đại, riêng tại Bắc Kỳ thời Pháp thuộc năm 1937 dịch tả giết 75.000 người.[1] Dịch tả vào Peru vào năm 1991, lan truyền sang Ecuador, Colombia, Mexico và Nicaragua kết quả hơn 12.000 người chết. Nguyên nhân Nguyên nhân gây ra bệnh tả thường là dùng nước nhiễm vi trùng gây bệnh. Vi trùng gây bệnh có nhiều nhất ở trong phân của người bệnh và trong nước thải có chứa phân. Ngoài ra cá và các thực phẩm khác từ nước nhiễm vi trùng gây bệnh cũng có thể là nguồn gây bệnh do nấu ăn không kỹ hoặc ăn hải sản sống. Phòng tránh Bệnh tả có thể tránh nếu có ý thức với bản thân và cộng đồng, bằng cách ăn chín và uống sôi. Tuyệt đối không ăn: rau sống, hải sản tươi sống, tiết canh, uống nước đá... trái cây phải ngâm nước muối, gọt sạch vỏ trước khi ăn. Tay chân luôn vệ sinh sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ trước khi ăn uống và sau khi đi vệ sinh. Khi thành dịch thì dịch tả có tốc độ lây lan và gây tử vong khủng khiếp, không như tiêu chảy. Chữa trị Biện pháp chữa trị quan trọng nhất là phải cung cấp lại đầy đủ nước, đường và muối, thường phải được tiêm vào mạch máu để không phải qua đường ruột. Ở các nước Thế giới thứ ba, người ta cũng chữa trị thành công và đơn giản bằng cách cho uống nước thay thế. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyên nên cho uống một dung dịch đường và muối gồm có các thành phần sau:
Với những biện pháp này tỷ lệ tử vong có thể giảm từ 60% xuống còn 1%. Cách phòng bệnh tốt nhất là phải sử dụng nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt. Chủng ngừa bệnh chỉ có hiệu lực trong vòng khoảng 6 tháng và chỉ ở khoảng 80% người được tiêm chủng. Nhóm máu và bệnh tả Các nghiên cứu gen mới đây cho thấy rằng mức độ dễ bị lây nhiễm của một người đối với bệnh tả phụ thuộc vào nhóm máu của họ. Người có nhóm máu O dễ bị lây nhiễm nhất trong khi người có nhóm máu AB có khả năng kháng cự nhiều nhất, gần như là miễn nhiễm. Giữa hai thái cực này là những người có nhóm máu A và B với nhóm máu A có khả năng kháng cự nhiều hơn nhóm máu B.
|
Nội khoa
Bệnh tả |
6 cách chống lão hóa não bộ6 cách chống lão hóa não bộNếu thường xuyên bị phân tâm, lơ là do não “thiếu điện” gây ra. |
GI - CHỈ SỐ QUYẾT ĐỊNH CHO BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Ước tính, sẽ có đến 285 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trên toàn thế giới vào năm 2010. Tại VN, ĐTĐ vẫn là một gánh nặng lớn cho xã hội cho chi phí điều trị, khiến bất cứ cá nhân nào cũng phải quan tâm. Có một thực tế đáng lo ngại là ở nước ta, có đến 73% người điều trị ĐTĐ không tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý vì chưa hiểu thấu đáo kiến thức dinh dưỡng”.
Nhận định trên được đưa ra tại hội thảo “Những đột phá trong nghiên cứu lâm sàng của dinh dưỡng chuyên biệt cho đái tháo đường” dành cho các chuyên gia và cán bộ y tế do Hội dinh dưỡng Việt Nam tổ chức được tài trợ bởi nhãn hàng Glucerna SR - Abbott Laboratories, USA. Tại hội thảo, PGS.TS Joseph T.Bass (Thành viên Ban chấp hành Nội khoa Hoa Kỳ) và các chuyên gia đã cùng trao đổi về tầm quan trọng của dinh dưỡng trong điều trị và quản lý bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đồng thời, chỉ ra vai trò mang tính quyết định của chỉ số GI (Glycemic Index- chỉ số đường huyết của thực phẩm). Ước tính, sẽ có đến 285 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trên toàn thế giới vào năm 2010. Tại VN, ĐTĐ vẫn là một gánh nặng lớn cho xã hội cho chi phí điều trị, khiến bất cứ cá nhân nào cũng phải quan tâm. Có một thực tế đáng lo ngại là ở nước ta, có đến 73% người điều trị ĐTĐ không tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý vì chưa hiểu thấu đáo kiến thức dinh dưỡng”. Nhận định trên được đưa ra tại hội thảo “Những đột phá trong nghiên cứu lâm sàng của dinh dưỡng chuyên biệt cho đái tháo đường” dành cho các chuyên gia và cán bộ y tế do Hội dinh dưỡng Việt Nam tổ chức được tài trợ bởi nhãn hàng Glucerna SR - Abbott Laboratories, USA. Tại hội thảo, PGS.TS Joseph T.Bass (Thành viên Ban chấp hành Nội khoa Hoa Kỳ) và các chuyên gia đã cùng trao đổi về tầm quan trọng của dinh dưỡng trong điều trị và quản lý bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đồng thời, chỉ ra vai trò mang tính quyết định của chỉ số GI (Glycemic Index- chỉ số đường huyết của thực phẩm).
Trong việc kiểm soát bệnh ĐTĐ, chỉ số GI được đặc biệt chú trọng. PGS.TS T.Bass nhấn mạnh: “GI đóng vai trò tối quan trọng trong can thiệp dinh dưỡng dành cho bệnh nhân ĐTĐ. Thực phẩm có GI trung bình và thấp sẽ cung cấp glucose chậm và đều đặn vào máu, giúp duy trì năng lượng đường huyết ổn định, từ đó, giúp hạn chế các biến chứng cho bệnh nhân ĐTĐ”. Các loại thực phẩm sau khi ăn vào sẽ được tiêu hoá, hấp thu vào máu và làm tăng đường huyết gọi là phản ứng đường huyết. Mức độ tăng đường huyết tuỳ thuộc vào số lượng thực phẩm ăn vào, hàm lượng và loại chất bột đường (carbohydrate, glucid), thành phần chất đạm, chất béo, chất xơ chứa trong thực phẩm, cách chế biến.... Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh, trung bình hay chậm, người ta phải chuẩn hoá thực phẩm với cùng một số lượng chất bột đường là 50gram như nhau và lấy đường glucose hay bánh mì trắng làm chuẩn với giá trị là 100, gọi là chỉ số đường huyết GI. GI được áp dụng tốt nhất đối với những thực phẩm có lượng bột đường cao. Các loại thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh sẽ có GI cao từ 70 trở lên, mức GI trung bình là từ 56 đến 69, GI thấp dưới 55 sẽ là những loại thực phẩm làm tăng đường huyết chậm. Tại hội thảo, TS.BS Đỗ Trung Quân (BV Bạch Mai) nhấn mạnh: “Với bệnh nhân ĐTĐ, việc hiểu rõ chỉ số GI là vô cùng quan trọng, mang tính quyết định về việc có điều trị thành công bệnh hay không. Ngay từ lúc phát hiện ra bệnh, mỗi bệnh nhân phải tìm hiểu và tập cách quản lý chỉ số GI của mình. Bệnh nhân phải biết được bệnh tình của mình phù hợp với nhóm thực phẩm nào, và phải chắc chắn rằng nên dùng những thực phẩm có chỉ số GI thấp (dưới 55)”.
Còn PGS.TS T.Bass đặc biệt lưu ý: “Nhiều người tưởng nhầm hai loại thực phẩm có năng lượng như nhau, sẽ có chỉ số GI tương đồng. Thực tế, có những loại thực phẩm mang lại năng lượng như nhau, như cho chỉ số GI khác nhau. Chính vì thế, trước mỗi bữa ăn, bệnh nhân ĐTĐ cần định lượng kĩ chỉ số GI của thực phẩm mà mình sẽ dùng. Điều này đòi hỏi mỗi bệnh nhân phải có chế độ ăn uống đặc biệt riêng, nhất là phải hạn chế ăn vặt-những món tưởng chừng như vô hại nhưng lại có có chỉ số GI cao, gây nguy hiểm”. Hội thảo cũng đã chỉ ra rằng, con số 73% bệnh nhân ĐTĐ Việt Nam đang không tuân thủ chế độ dinh dưỡng phù hợp, nhiều khả năng sẽ phải sớm chịu những biến chứng về thần kinh, tim mạch, thận, mắt. Và tất nhiên, điều bức thiết mà họ phải quan tâm là chỉ số GI của thực phẩm mà mình sử dụng hằng ngày. Theo TS. Từ Ngữ - Tổng thư ký Hội dinh dưỡng VN thì ý nghĩa quan trọng nhất của hội thảo là thông qua hơn 300 cán bộ y tê tham dự hội thảo, các thông tin bổ ích về chế độ dinh dưỡng sẽ được cập nhật cho bệnh nhân và giúp họ kiểm soát tốt hơn bệnh đái tháo đường. Trong việc kiểm soát bệnh ĐTĐ, chỉ số GI được đặc biệt chú trọng. PGS.TS T.Bass nhấn mạnh: “GI đóng vai trò tối quan trọng trong can thiệp dinh dưỡng dành cho bệnh nhân ĐTĐ. Thực phẩm có GI trung bình và thấp sẽ cung cấp glucose chậm và đều đặn vào máu, giúp duy trì năng lượng đường huyết ổn định, từ đó, giúp hạn chế các biến chứng cho bệnh nhân ĐTĐ”. Các loại thực phẩm sau khi ăn vào sẽ được tiêu hoá, hấp thu vào máu và làm tăng đường huyết gọi là phản ứng đường huyết. Mức độ tăng đường huyết tuỳ thuộc vào số lượng thực phẩm ăn vào, hàm lượng và loại chất bột đường (carbohydrate, glucid), thành phần chất đạm, chất béo, chất xơ chứa trong thực phẩm, cách chế biến.... Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh, trung bình hay chậm, người ta phải chuẩn hoá thực phẩm với cùng một số lượng chất bột đường là 50gram như nhau và lấy đường glucose hay bánh mì trắng làm chuẩn với giá trị là 100, gọi là chỉ số đường huyết GI. GI được áp dụng tốt nhất đối với những thực phẩm có lượng bột đường cao. Các loại thực phẩm làm tăng đường huyết nhanh sẽ có GI cao từ 70 trở lên, mức GI trung bình là từ 56 đến 69, GI thấp dưới 55 sẽ là những loại thực phẩm làm tăng đường huyết chậm. Tại hội thảo, TS.BS Đỗ Trung Quân (BV Bạch Mai) nhấn mạnh: “Với bệnh nhân ĐTĐ, việc hiểu rõ chỉ số GI là vô cùng quan trọng, mang tính quyết định về việc có điều trị thành công bệnh hay không. Ngay từ lúc phát hiện ra bệnh, mỗi bệnh nhân phải tìm hiểu và tập cách quản lý chỉ số GI của mình. Bệnh nhân phải biết được bệnh tình của mình phù hợp với nhóm thực phẩm nào, và phải chắc chắn rằng nên dùng những thực phẩm có chỉ số GI thấp (dưới 55)”.
Còn PGS.TS T.Bass đặc biệt lưu ý: “Nhiều người tưởng nhầm hai loại thực phẩm có năng lượng như nhau, sẽ có chỉ số GI tương đồng. Thực tế, có những loại thực phẩm mang lại năng lượng như nhau, như cho chỉ số GI khác nhau. Chính vì thế, trước mỗi bữa ăn, bệnh nhân ĐTĐ cần định lượng kĩ chỉ số GI của thực phẩm mà mình sẽ dùng. Điều này đòi hỏi mỗi bệnh nhân phải có chế độ ăn uống đặc biệt riêng, nhất là phải hạn chế ăn vặt-những món tưởng chừng như vô hại nhưng lại có có chỉ số GI cao, gây nguy hiểm”. Hội thảo cũng đã chỉ ra rằng, con số 73% bệnh nhân ĐTĐ Việt Nam đang không tuân thủ chế độ dinh dưỡng phù hợp, nhiều khả năng sẽ phải sớm chịu những biến chứng về thần kinh, tim mạch, thận, mắt. Và tất nhiên, điều bức thiết mà họ phải quan tâm là chỉ số GI của thực phẩm mà mình sử dụng hằng ngày. Theo TS. Từ Ngữ - Tổng thư ký Hội dinh dưỡng VN thì ý nghĩa quan trọng nhất của hội thảo là thông qua hơn 300 cán bộ y tê tham dự hội thảo, các thông tin bổ ích về chế độ dinh dưỡng sẽ được cập nhật cho bệnh nhân và giúp họ kiểm soát tốt hơn bệnh đái tháo đường. |
Giải pháp “vàng” cho bệnh nhân đột quỵ não![]() Nguy cơ tử vong ở những người đột quỵ do tắc động mạch não có thể lên tới 90% nếu không được điều trị kịp thời. |
|
|
CHUẨN ĐOÁN VÀ XỬ LÝ BỆNH TẢBs Nguyễn Thị Hương Giang, khoa Truyền Nhiễm bệnh viện Bạch Mai, phòng khám Medlink soạn |
Skype:



