đùi kém đi do nhiều nguyên nhân khác nhau và hậu quả là sự nuôi dưỡng của chỏm xương đùi kém đi từ đó dẫn đến hoại tử tổ chức xương và sụn. Vì tình trạng hoại tử này do thiểu dưỡng, không do vi khuẩn nên gọi là hoại tử vô khuẩn.


Hình ảnh mạch máu nuôi cổ và chỏm xương đùi( theo eorthopod.com)

Hình ảnh tổn thương hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi ở giai đoạn sớm( theo eorthopod.com)
1. Nguyên nhân chấn thương: do chấn thương của khớp háng( gãy cổ xương đùi , trật khớp háng,...)
2. Nguyên nhân không chấn thương: là các yếu tố nguy cơ như thường gặp ở những bệnh nhân uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá, lạm dụng corticoid, bệnh lý mạn tính toàn thân như bệnh lupus ban đỏ, bệnh hồng cầu hình liềm,...hoặc là nghề nghiệp có nguy cơ như công nhân hầm mỏ, thợ lặn, ...
Triệu chứng sớm của bệnh là các biểu hiện đau vùng khớp háng, tăng lên khi đi lại và đỡ khi nghỉ ngơi. Ở giai đoạn sớm, có thể không thấy hình ảnh tổn thương trên phim chụp X quang, đôi khi phải chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ mới xác định được thương tổn.
I. PHÂN ĐỘ VÀ HÌNH ẢNH HÌNH ẢNH HỌC:
Có nhiều hệ thống phân độ khác nhau được đưa ra cho HTVKCXĐ. Năm 1977 Ficat và Arlet đề xuất chia ra 4 độ dựa vào biểu hiện trên x quang của chỏm xương đùi năm 1985 được mở rộng thêm độ 0.
Với sự ra đời của CT và MRI nên chẩn đoán nhạy cảm hơn nên năm 1993 ARCO (Association Reseach Circulation Osseous ) đề xuất chia ra làm 6 độ và hệ thống phân loại này đang phổ biến nhất.
Độ 0: Người có yếu tố nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi không chẩn đoán được trên X quang qui ước, CT scan, MRI. Giai đoạn này tổn thương quá nhỏ không thể phát hiện bằng các kỷ thuật khoa học hiện tại hay còn gọi là khoảng trống của bệnh.
Độ I: Hư hại mạch máu xảy ra, X quang qui ước chưa phát hiện bất thường nhưng CT, MRI phát hiện được bất thường, bệnh nhân bắt đầu phàn nàn đau âm ỉ không liên tục ở vùng háng bị tổn thương, cũng có thể đau khớp gối.
Độ II: X quang qui ước cho thấy rỏ được vùng thấu quang và vùng xơ cứng mô tả sự sửa chửa của quá trình nhồi máu, xạ hình xương, CT, MRI cho phép chẩn đoán (+). Giai đoạn này tương ứng với quá trình tiêu xương và nhồi máu xương. Bệnh nhân thấy đau khi đi lại và giảm đau khi nghĩ ngơi.
Độ III: ở giai đoạn này biểu hiện nổi bật là sự gãy xương ở dưới mặt sụn, biểu hiện là hình ảnh thấu quang hình trăng lưỡi liềm xuất hiện dưới mặt sụn, chỏm xương đùi vẫn còn nguyên vặn không bị bẹp. Hình ảnh trăng lưỡi liềm này là dấu hiệu của xẹp xương xốp dưới mặt sụn, mặt sụn vẫn còn nguyên vặn. Ở giai đoạn này còn được chia ra làm 3 mức độ: A ( nhẹ: 30%)
Độ IV: mặt sụn bị xẹp vì sự nâng đỡ dưới sụn yếu đi. Đôi khi sự bẹp của chỏm xương đùi là quá nhỏ để phát hiện trên x quang qui ước thẳng – nghiêng, tuy nhiên CT, MRI thì thấy rất rõ. Ở giai đoạn này ổ cối vẫn còn nguyên vặn.
Độ V: ổ cối bị ảnh hưởng bởi sự kích thích của không hợp nhau với chỏm xương đùi, điều đó được thể hiện là khe khớp hẹp lại và có sự xơ cứng ở cả ổ cối và chỏm xương đùi. Ở phần rìa có các chồi xương do biến dạng của chỏm xương đùi làm cho bệnh nhân phải chịu đựng đau đớn liên miên. Khớp háng bắt đầu không thể cứu vãn được.
Độ VI: giống như 1 viêm xương khớp tiến triển, khe khớp biến mất, chỏm xương đùi vỡ, mặt sụn khớp biến mất. Chỏm xương đùi hoại tử vỡ vụn, bệnh nhân phải chịu đau đớn liên tục, đi lại giảm nghiêm trọng.
Trước 1 bệnh nhân có đau háng và gối tiền sử không có chấn thương thì cần hỏi thật kỹ các yếu tố nguy cơ như bệnh hệ thống, thợ lặn, lạm dụng rượu và corticoide.
Những người thợ lặn và công nhân hàm mỏ là những nạn nhân bị hoại tử xương vô khuẩn do dồn nén khí từ đường thở. Các bóng khí vào máu gây tắc dòng chảy của máu. Do đó cần phải kiểm tra kỹ ở những người này là khớp vai, khớp gối có khi đồng thời xảy ra hoại tử xương. Dùng x quang qui ước chụp cả 2 khớp háng thẳng nghiên nếu có yếu tố nguy cơ , xạ hình xương là cần thiết, CT, MRI khuyên dùng để kiểm tra chỏm xương đùi
II. ĐIỀU TRỊ: phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh và bệnh nguyên thứ yếu là giới, tuổi, lối sống và yêu cầu của bệnh nhân. Có 2 hình thức điều trị là không phẫu thuật và phẫu thuật.
1. Điều trị không phẫu thuật: khi đã chẩn đoán HTVKCXĐ là phải chẩn đoán mức độ của bệnh và hướng điều trị được đặt ra để giải quyết cho bệnh nhân. Điều trị nội khoa là hạn chế các yếu tố nguy cơ như hạn chế rượu và hoạt động bơi lặn. Một vài trường hợp điều trị này có thể không hiệu quả. Nếu bệnh nhân chịu đựng được đau khớp háng khi hoạt động thì giảm trọng lượng tỳ đè lên khớp háng bằng cách đi nạng khi đi lại và dùng thuốc giảm đau kháng viêm non-steroide.
2. Điều trị phẫu thuật: điều trị phẫu thuật trong HTVKCXĐ là bảo vệ toàn vẹn chỏm xương đùi bất cứ giá nào và làm ngưng quá trình thoái hoá.
2.1.Trong giai đoạn sớm khi chỏm xương đùi chưa biến dạng: phẫu thuật giảm áp trong chỏm xương đùi đem lại thành công. Giảm ép là giải thoát sự tăng áp trong tủy xương dẫn đến tăng sinh mạch máu nuôi. Trong giai đoạn sớm tiên lượng rất tốt.
2.2.Trong giai đoạn chỏm xương đùi bị bẹp( độ III và >độ III) thì có đến trên 70% phải tthực hiện phẫu thuật thay thế, vì vậy giai đoạn này sự giải áp chỉ làm chậm trể thêm sự thay khớp, do đó sự giải áp chỉ đặt ra ở giai đoạn sớm. Vì nguyên nhân của tổn thương hoại tử chỏm xương đùi vô khuẩn là do thiếu máu nuôi dưỡng nên một số tác giả đã sử dụng các vạt xương có cuống mạch nuôi như ùng vạt xương mác có cuống mạch tự do hay dùng vạt xương mào chậu có cuống để điều trị HTVKCXĐ.Những kết quả điều trị ban đầu cho thấy có hiệu quả, nhất là ở những trường hợp tổn thương độ II hoặc III.
Tuy nhiên, khi cấu trúc giải phẫu của chỏm đã bị biến dạng thì tất cả các biện pháp điều trị nói trên chỉ mang ý nghĩa kéo dài và phẫu thuật thay khớp háng là giải pháp cần phải được trao đổi và thông tin cho bệnh nhân biết.
Trong các trường hợp có chỉ định thay khớp háng, hiện nay có thể lựa chọn thay khớp háng bán phần( bipolar) hoặc toàn bộ. Tuy nhiên, vì đa số bệnh nhân có tổn thương khớp háng đều còn trẻ nên xu thế là sử dụng khớp háng toàn phần không xi măng vì có nhiều ưu điểm được đa số các phẫu thuật viên ủng hộ.
III. KẾT LUẬN VÀ DỰ PHÒNG:
HTVKXCĐ khởi phát lúc đầu âm thầm và là hậu quả của thời còn trẻ. Khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng thì tổn thương hoại tử tiến triển mức độ nhanh đến thời điểm can thiệp phẫu thuật là cần thiết.
Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt ở giai đoạn cấu trúc giải phẫu của chỏm xương đùi còn nguyên vẹn là lý tưởng vì dù sao, một khớp háng thật vẫn tốt hơn là sử dụng khớp háng nhân tạo.
Việc dự phòng HTVKCXĐ đòi hỏi phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ, trong đó bên cạnh các yếu tố bệnh nghề nghiệp là các yếu tố nguy cơ khác có thể loại bỏ được là rượu và thuốc lá.
Ths Trần Trung Dũng( tổng hợp và lược dịch)
Skype:



